Ban đầu là những trò đùa ma mãnh
Từ thế kỷ XIX, một nhóm thanh niên quản lý tổng đài điện thoại (công nghệ do Graham Bell phát minh) đã lợi dụng để chuyển hướng cuộc gọi, nghe lén các cuộc điện thoại và những trò điên rồ khác đã khiến cho khái niệm này bắt đầu hình thành.
Lịch sử hacker sơ khai khởi đầu vào những năm 1950 - 1960, bao trùm cả phần cứng lẫn phần mềm và xoay quanh phòng thí nghiệm trí thông minh nhân tạo tại Viện công nghệ Massachusetts (MIT - Mỹ).
Giám đốc MIT là Marvin Minsky cho phép những sinh viên thông minh, yêu thích sự khám phá và tò mò đã từng xâm nhập vào hệ thống điện thoại và trung tâm điều hành của câu lạc bộ đường sắt Tech Model được tiếp cận trực tiếp với những cỗ máy của viện. Những người này hình thành dần nền tảng của các Hacker tương lai. Các cái tên như: Peter Deutsch, Bill Gosper, Richard Greenblatt, Tom Knight và Jerry Sussman đều bắt đầu từ đây.
Ban đầu, giới tin tặc gọi “nhiệm vụ cao cả” mang tên phá đám ấy là "hacker" và "cracker" đều có nghĩa là người thực hiện hành đồng phá hoại máy tính. Cracker thể hiện đẳng cấp cao hơn. Sau này, cracker cũng thực hiện hành vi bẻ khoá cổng thông tin giống hệt một hacker cấp độ thấp nên người ta gọi chung bằng danh từ hacker.
Bao giờ những phát kiến được coi là vĩ đại cũng nảy sinh ra những ý tưởng phá phách hoặc chống đối, người ta coi đó là hai mảng sáng-tối của giới công nghệ. Những năm 1970-1980, khi pháp luật vẫn còn coi mạng máy tính theo ý nghĩa khu biệt thì giới hacker ở thời đại “hoàng kim”.
Sau MIT, các trung tâm đào tạo khác ở Mỹ như: Đại học Carnegie Mellon, Stanford cũng trở thành "đất" nuôi dưỡng nhiều mầm mống hacker. Năm 1991, phòng thí nghiệm trí thông minh nhân tạo Standford, dưới sự "chỉ đạo" của John McCarthy, chứng kiến chiếc máy SAIL tắt ngấm sau khi hacker gửi email với thông điệp "chào tạm biệt" lên Internet như thể chính SAIL gửi lời "trăng trối" cuối cùng tới bạn bè.
Những cái tên như Ed Fredkin, Brian Reid, Jim Gosling, Brian Kernighan, Dennis Ritchie hay Richard Stallman… đã biến các trung tâm nghiên cứu có tính thương mại như ATT, Xerox... thành nơi tụ tập phá hoại của thế giới tin tặc.
Tại câu lạc bộ máy tính Homebrew tại San Francisco (Mỹ), hội tụ những người yêu thích điện tử và mong muốn xây dựng máy tính của riêng mình không chỉ phần mềm mà cả phần chính mang mục đích cá nhân chứ không phải phá hoại tài sản của người khác. Những cái tên như: Lee Felsenstein, Steve Dompier, Steve Wozniak, Steve Jobs và Bill Gates, người đặt nền móng PC cho cả thế giới cuối cùng cũng xô dạt vào giới tin tặc.
Sự thắt chặt của pháp luật
Cuối những năm 1980, khi mạng máy tính trở nên phổ biến rộng khắp toàn cầu, những lợi tích của nó đem lại để vận hành cỗ máy kinh tế và chi phối nhiều hoạt động trong đời sống thì những hành động phá hoại từ xa có nguy cơ lớn hơn.
Chính vì vậy, Chính quyền Mỹ phải thiết lập hành lang pháp lý để uốn nắn hành vi của hacker nhằm bảo vệ lợi ích của những tổ chức, cá nhân dùng thiết bị này.
Luật pháp Mỹ chính thức ban hành đạo luật chống lạm dụng và lừa đảo thông qua máy tính và thành lập trung tâm cứu hộ máy tính nhằm phản ứng nhanh trước các hành vi phạm tội. Theo luật pháp Mỹ, mọi hành vi thâm nhập máy tính của người khác mà không được phép sẽ bị khởi tố và phạt tù, phạt tiền, tùy theo mức độ nghiêm trọng.
Ngày nay, chỉ cần nghĩ đến việc ngưng trệ mạng Internet nhiều người đã nghĩ ngay đến việc dường như cả cỗ máy đảm bảo cho sự vận hành xã hội ngừng lại. Và chính thời điểm này, hacker càng trở thành mối đe dọa và khó kiếm soát hơn. Tin tặc có thể tấn công website, lừa đảo người dùng Internet ở nước khác. Các quốc gia bắt tay ngay vào xây dựng luật chống tội phạm máy tính cho riêng mình.
Bản thân quan điểm trong giới hacker cũng rất mâu thuẫn. Người thì cho rằng họ hack để vui, không làm hại ai, kẻ cho rằng chỉ nên khai thác lỗi để báo lại cho hãng phần mềm, nhà quản trị website hay hệ thống máy tính lớn.
Nhóm khác thì âm thầm lợi dụng các lỗ hổng bảo mật để thu lợi cho mình. Chính vì điều này, một loạt thuật ngữ rắc rối đã ra đời để thể hiện bản chất của từng nhóm hacker.
Trước đây, hacker được phân thành 2 loại: black hat chỉ những kẻ xấu đột nhập vào máy tính để phá hoại, white hat chỉ nhóm người tốt cố gắng tìm kiếm và bít các lỗ hổng trước khi kẻ xấu phát hiện ra chúng. Ngày nay, khi cơ hội tấn công nhiều hơn, các hình thức hacker mới xuất hiện, động cơ và hoạt động của chúng cũng thay đổi.
- Hacker mũ trắng: là những chuyên gia lập trình chuyên tìm các lỗi của phần mềm với mục đích sửa chữa, xây dựng hệ thống an toàn hơn.
- Hacker mũ đen: đối lập với hacker mũ trắng, là những hacker phá hoại và trục lợi cho mình.
- Hacker mũ xanh/samurai: là những chuyên gia lập trình tài năng, được các hãng như Microsoft mời về làm việc chuyên tìm lỗi cho phần mềm của họ.
- Hacker mũ xám hay mũ nâu: là những người đôi khi làm công việc của hacker mũ trắng nhưng vẫn làm công việc của hacker mũ đen.