Cũng như Tết Trung Thu, bánh Trung Thu có xuất xứ từ Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi Bánh Trung Thu là Bánh Trăng, Bánh Hồ Đào, bánh Nhỏ, Bánh Đoàn (đoàn tụ), Bánh Đoàn Viên...
Bánh Trung thu (bánh Nguyệt) có lịch sử lâu đời. Từ thời Ân, Chu ở vùng Triết Giang (Trung Quốc) đã có loại bánh tưởng nhớ Thái Sư Văn Trọng gọi là bánh Thái Sư. Có thể coi đây là thủy tổ của Bánh Trung Thu. Thời Tây Hán, Trương Thiên đi Tây Vực mang về Trung Quốc hạt vừng, hạt hồ đào, dưa hấu làm nguyên liệu cho bánh Nguyệt thêm phong phú. Thời đó hồ đào là nguyên liệu chính của bánh Nguyệt nên còn gọi là Bánh Hồ Đào.
Đến thời Đường, thành phố Trường An có những tiệm bánh trứ danh. Tương truyền vào một đêm Trung Thu, Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ăn Bánh Hồ Đào, thuởng ngoạn Trăng rằm. Đường Huyền Tông chê tên nghe không hay nên đặt tên là Bánh Nguyệt cho thơ mộng. Từ đó về sau, Bánh Trung Thu có tên là Bánh Nguyệt. Thời nhà Tống, tập tục ăn Bánh Trung Thu rất thịnh hành trong giới quý tộc.
Tuy có xuất xứ từ Trung Quốc nhưng tục ăn Tết Trung Thu hay Bánh Trung Thu đã có ở nước ta từ rất lâu và mang đậm chất văn hóa của dân tộc Việt. Bánh Trung Thu vô cùng đa dạng, phong phú từ hình dáng đến hương vị chủ yếu là hai loại bánh nướng và bánh dẻo. Bánh nướng tượng trưng cho Trời (dương), bánh dẻo tượng trưng cho mặt Trăng (âm).
Nếu trước kia, hai loại bánh này chỉ có hình tròn thì ngày nay, với đôi bàn tay tài hoa, những nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên nhiều hình dáng khác nhau như hình các con cá chép, cua, mèo, thỏ…mang mùi vị và thanh sắc Việt Nam. Cùng nghệ thuật thưởng thức miếng ngon tinh tế, thanh nhã, Bánh Trung thu chính là một biểu tượng của văn hóa dân gian Việt đang được bảo vệ và lưu giữ cho muôn đời.